• TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
    • Giới Thiệu Tổng Quan
    • Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ
  • PHÁP HÀNH & KINH GIẢI
    • Giải thích Kinh Ẩn Dụ
    • Pháp hành các tông phái Phật giáo
  • THIỀN & KHOA HỌC
    • Nghiên cứu khoa học về thiền hơi thở
    • Thiền tông nhìn qua lăng kính khoa học
    • Khoa học về pháp tu Tịnh độ
  • SÁCH & LUẬN
    • Sách về Thiền Phật giáo
    • Phân tích về luận Phật giáo
    • Tiếng Việt Tiếng Việt
    • English English
Trang Chủ » Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ » 3 thời kỳ lịch sử Phật giáo Ấn Độ

3 thời kỳ lịch sử Phật giáo Ấn Độ

I – THỜI HƯNG THỊNH TỪ 594 – 185 Trước Tây Lịch: 

A – Sự hưng thịnh Phật giáo vào thời Đức Phật:

Trước khi, Đức Phật ra đời, thì nước Ấn Độ đã có rất nhiều tôn giáo như Ấn giáo – Hindhuism, Đạo Kỳ Na Giáo hay còn gọi đạo lõa thể – đạo Jain, đạo Sikh, và các tín ngưỡng nhân gian .v.v. Kể từ khi Đức Phật ra đời, tu hành thành đạo và Ngài hoằng pháp cho đến khi nhập Niết Bàn, thì đạo Phật mới xuất hiện nơi đời. Căn cứ theo truyền thống Phật giáo bắc tông – Mahayana Buddhism.

  • Vào thế kỷ thứ 7 trước tây lịch ngày 15/04 ÂL năm 624, Đức Phật sanh ra tại vườn Lâm Từ Ni – Lumbini, nước Nepal bây giờ. 

  • Vào ngày 08/02 ÂL năm 605 trước tây lịch, Đức Phật đi xuất gia lúc 19 tuổi. 

  • Vào thế kỷ thứ 6 ngày 08/12 ÂL năm 594 trước tây lịch, Đức Phật thành đạo lúc 30 tuổi.

  • Vào thế kỷ thứ 6 ngày 15/02 ÂL năm 544 trước tây lịch, Đức Phật nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi 

* Từ năm 594 – 544 trước tây lịch, Ngài đi hoằng pháp các nơi khoảng 49 năm. Trong thời gian nầy, các vua hộ trì sự hoằng pháp của Ngài như vua Tần Bà Sa La – Bimbisara King tại thành Vương Xá – Rajgir; Vua Ba Tư Nặc – Pasenadu King tại thành Xá Vệ – Saravasti. Trong thời gian nầy, Phật giáo bắt đầu lan truyền.

b) Sự hưng thịnh Phật giáo vào thời vua A Dục – Ashoka king 268 - 232:

Vào thế kỷ thứ 3 từ năm 268 đến năm 232 trước tây lịch Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nước và hải ngoại qua thời vua A Dục.

Vua Ashoka sanh vào năm 304 trước tây lịch tại kinh thành Pataliputta (Thủ đô Patna, tiểu bang Bihar bây giờ). Vua cha là Bindusara Maurya; hoàng hậu là Devi Dharma. Vua Bindusara Maurya là con trai của  vua Chandragupta Maurya. Vua Chandragupta Maurya là ông nội của vua A Dục, là người đầu tiên sáng lập triều đại Maurya. Ông cũng đã từ bỏ ngai hoàng để làm tu sĩ đạo Kỳ Na Giáo ( Đạo Jain). Hoàng hậu Devi Dharma (còn gọi là Subhadrangi hoặc Janapadkalyani) là con gái của một vị tu sĩ Bà La Môn (Tu sĩ Ấn Giáo) tại kinh thành Champa.

Từ năm 268 đến năm 232 trước tây lịch, vua Ashoka lên ngôi hoàng đế, đời thứ ba của triều đại Maurya. Khi lên hoàng đế, Vua Ashoka đã mở rộng đế chế của mình từ vùng Assam phía đông đến Balochistan phía tây; từ vùng Pamir Knot ở nước A Phú Hãn - Afghanistan phía bắc tới vùng Peninsula ở phía nam. Vì mở rộng sự thống trị, vua A Dục đã giết chết biết bao nhiêu người. Nhiều người nói rằng ông là vị vua độc ác.

Bản đồ Ấn Độ dưới thời vua A Dục

Vua A Dục - Ashoka và xá lợi của đức Phật

Năm 263 trước tây lịch, vua Ashoka trở thành Phật tử. Ông biết rằng Phật giáo là nền tảng đạo đức, có lợi ích cho nhân loại, cho loài vật và cho thế giới. Vua ủng hộ xây dựng nhiều tu viện, cho làm những tượng đài để đánh dấu di tích cuộc đời lịch sử của đức Phật. 

Theo lịch sử Phật giáo, xá lợi của đức Phật được chia ra 8 nước. Vua Ashoka đã gôm tất cả xá lợi và xây dựng 84,000, cái tháp để thờ xá lợi của đức Phật khắp nước Ấn Độ. 

Vua có công ủng hộ kết tập Đại Tạng Kinh lần thứ ba thành Pataliputta ( thủ đô Patna, tiểu bang Bihar bây giờ), do sự chủ tọa Ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu -  Moggaliputta-Tissa vào năm 244 trước tây lịch. Ông cho phép thái tử Mahinda và công chúa Sanghamitta đi xuất gia và truyền bá đạo Phật sang nước Tích Lan (Srilanka). Sư cô Sanghamitta đã cắt nhánh cây Bồ Đề từ cây Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo đem sang trồng tại nước Tích Lan. Đặc biệt, Sư Cô là người đầu tiên lập giới đàn Ni và truyền giới tỳ kheo Ni tại nước Tích Lan.

Vua A Dục – Ashoka là vị vua đầu tiên có công đưa các tu sĩ Phật giáo sang nước Miến Điện và các nước đông nam Á qua đường tơ lụa. 

Năm 232 trước tây lịch, vua A Dục băng hà. Triều đại Maurya có 9 đời, kéo dài từ năm 322 đến năm 180 trước tây lịch.

  1. Đời thứ nhất vua Chandragupta từ năm 322 đến năm 297 trước tây lịch.

  2. Đời thứ hai vua Bindisara từ năm 297 đến năm 268 trước tây lịch.

  3. Đời thứ ba vua Ashoka từ năm 268 đến năm 232 trước tây lịch.

  4. Đời thứ tư vua Dasharatha từ năm 232 đến 224 trước tây lịch.

  5. Đời thứ năm vua Samprati từ năm 224 đến năm 215 trước tây lịch.

  6. Đời thứ sáu vua Shalishuka từ năm 215 đến năm 202 trước tây lịch.

  7. Đời thứ bảy vua Devavarman từ năm 202 đến năm 195 trước tây lịch.

  8. Đời thứ tám vua Shatadhanvan từ năm 195 đến năm 187 trước tây lịch.

  9. Đời thứ chín vua Brihadratha từ năm 187 đến năm 180 trước tây lịch.

Vào thế kỷ thứ 3 năm 268 trước tây lịch đến thế kỷ 20 năm 1947 sau tây lịch, Vua A Dục là người thống lãnh các kinh thành trở thành một nước. Nước A Phú Hãn – Afghanistan, Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ là một quốc gia kể từ thời vua A Dục. Vậy, nước Ấn Độ thống nhất đất nước là gần 23 thế kỷ. Sau khi, Anh Quốc trao trả độc lập cho Ấn Độ vào thế kỷ 20 năm 1947, thì nước Ấn Độ bị chia thành 4 quốc gia. Đó là Afghanistan, Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ bây giờ.

Trong thời đại của vua A Dục, Ngài ra lệnh khắc ghi lại lịch sử của Đức Phật trên các trụ cột đá Sa Thạch – sand stone và cho dựng các nơi mà Đức Phật đã hoằng pháp. Nhờ vậy, các nhà khảo cổ học mới tìm ra các di tích của Đức Phật.

1 - Quý vị tham khảo chi tiết đường trang nhà lịch sử vua A Dục. Nếu muốn đọc tiếng Việt thì bấm vào nút dịch:

 https://en.wikipedia.org/wiki/Ashoka

2 – Quý vị tham khảo trang nhà Phật giáo Ấn Độ

https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Buddhism

+ Tóm lại: 

Từ thế kỷ thứ 6 năm 594 trước tây lịch là năm Đức Phật thành đạo và đạo Phật bắt đầu được lan truyền. Mãi cho đến thế kỷ thứ 2 năm 185 trước tây lịch, Trong thời gian nầy, Phật giáo rất hưng thịnh, thanh bình và được các vua quan và dân chúng tín ngưỡng, ủng hộ trong suốt 4 thế kỷ.

II – THỜI ĐẠI SUY VONG CỦA PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ từ thế kỷ thứ 2 năm 185 trước tây lịch – thế kỷ thứ 16 năm 1526 sau tây lịch:

1) Từ thế kỷ thứ 2 năm 185 trước tây lịch đến đầu thế kỷ 13 năm 1206 sau tây lịch, đây là thời đại của vua Ấn giáo – Brahma king trị vì:

            Chúng ta biết rằng sau thế kỷ thứ 16, Phật giáo Ấn Độ đã bị xóa sổ bởi các thế lực tôn giáo bạn.

  • Tất cả tu sĩ Phật giáo bị chặt đầu và giết sạch.

  • Tất cả tu viện đều bị đập phá sạch.

  • Tất cả Kinh sách đều bị đốt sạch.

Căn cứ trong lịch sử nước Ấn Độ, vào thế kỷ thứ 2 năm 185, ông Pushyamitra Shunga là một vị tướng quân người Ấn Giáo của triều đại Maurya. Ông đã ám sát vị vua cuối cùng của triều đại Maurya, vua Brahadratha Maurya. Sau đó, ông lên ngôi, tự xưng vua Pushyamitra Shunga và ông ta thành lập triều đại Shunga. Triều đại Shunga kéo dài 50 năm, từ năm 185 đến năm 73 trước tây lịch. Ông thù hiềm với Phật giáo và tín đồ Phật giáo. Ông đã khủng bố niềm tin của Phật tử. Ông đã ra lệnh đập phá hàng trăm tu viện, giết hàng trăm ngàn tu sĩ Phật giáo. 840.000, tháp Phật giáo đều bị đập phá .v.v. Ông ban thưởng 100 tiền vàng cho người chặt 1 cái đầu của tu sĩ Phật giáo.

Vua Pushyamitra Shunga là vị vua đầu tiên khởi sự tiêu diệt Phật Giáo Ấn Độ. Sau đó, các đời vua Ấn Độ tiếp theo đó đàn áp và tiêu diệt Phật giáo lần lần đến thế kỷ thứ 13 năm 1206.

Quý vị có thể tham khảo đường nối kết này.

1 – Lịch sử nước Ấn Độ:

https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_India

2 – Lịch sử triều đại vua Ấn Giáo Pushyamitra Shunga:

https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Buddhism#Shunga_dynasty_(2nd%E2%80%931st_century_BCE)

.https://en.wikipedia.org/wiki/Pushyamitra_Shunga

3 - Phim Ấn Độ Teesri Azadi kể về một vị vua Ấn Giáo ra lệnh tiêu diệt Phật giáo

https://www.youtube.com/watch?v=wM98m3mkS1w

2 - Từ đầu thế kỷ 13 năm 1206 đến thế kỷ 16 năm 1526 đây là thời đại của vua Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ – Muslim:

Trong lịch sử Ấn Độ có kể lại vào đầu thế kỷ 13 năm 1206, một vị tướng quân hồi giáo Delhi tên là Muhammad bin Bakhtiyar Khalji. Ông đã dẫn đội quân Thổ Nhĩ Kỳ sang xâm chiếm các tiểu lục địa miền tây bắc Ấn Độ như là Afghanistan, Pakistan và thành phố Delhi bây giờ .v.v. Đặc biệt, họ đã tiêu diệt Phật giáo, nhất là đốt luôn trường đại học Phật giáo Nalanda .v.v. Sau đây là trích đoạn của trang nhà của các nhà nghiên cứu lịch sử tôn giáo.

+ Trang nhà tham khảo:

https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Buddhism

Đế chế cuối cùng hỗ trợ Phật giáo, triều đại Pala , sụp đổ vào thế kỷ thứ 12, và Muhammad bin Bakhtiyar Khalji , một vị tướng của Vương quốc Hồi giáo Delhi đầu tiên , phá hủy các tu viện và tượng đài và truyền bá đạo Hồi ở Bengal . [79] Theo Randall Collins, Phật giáo đã suy tàn ở Ấn Độ trước thế kỷ thứ 12, nhưng với sự cướp bóc của những kẻ xâm lược Hồi giáo, nó gần như bị tuyệt chủng ở Ấn Độ vào những năm 1200. [89] Vào thế kỷ 13, tiểu bang Craig Lockard, các tu sĩ Phật giáo ở Ấn Độ đã trốn thoát đến Tây Tạng để thoát khỏi cuộc đàn áp Hồi giáo; [90]trong khi các nhà sư ở miền tây Ấn Độ, bang Peter Harvey, thoát khỏi cuộc đàn áp bằng cách di chuyển đến các vương quốc Ấn Độ giáo phía nam Ấn Độ có khả năng chống lại sức mạnh Hồi giáo. [91]

Vậy, từ thế kỷ thứ 2 năm 185 trước tây lịch đến thế kỷ 16 năm 1526 sau tây lịch tổng cộng là 18 thế kỷ; Phật giáo Ấn Độ bị đàn áp, tiêu diệt, suy vong. Do đó, Phật giáo hoàn toàn vắng mặt trên toàn cõi nước Ấn Độ.

+ PHẦN BÌNH LUẬN:

            Qua lịch sử, các nhà tôn giáo chứng minh rằng Ấn giáo và Hồi giáo chung tay tiêu diệt Phật giáo. Có người cho rằng quân Hồi giáo sang xâm chiếm Nước Ấn Độ vào đầu thế kỷ 13 năm 1206; Kể từ đó, Hồi giáo tiêu diệt sạch Phật giáo.

  • Hồi giáo chỉ chiếm một vài tiểu lục địa của Ấn Độ, thì họ không thể tiêu diệt Phật giáo toàn quốc. Huốn chi, chúng ta đã biết Phật giáo đã có mặt khắp nước Ấn và cả hải ngoại vào thời vua A Dục – Ashoka (268 -232).

  • Nếu Hồi giáo tiêu diệt sạch Phật giáo, thì tại sao không tiêu diệt luôn Ấn giáo và các tôn giáo khác. Tại sao họ chỉ nhắm vào Phật giáo thôi. Trong lúc hiện nay Ấn giáo là 79% của dân số Ấn; Hồi giáo có khoảng 17%.

  • Trong các viện bảo tàng quốc gia có trưng bày sự tàn phá các Thánh Tích và các cơ sở tôn giáo gây ra bởi quân Hồi giáo, nhưng đa phần là của Phật giáo nhiều hơn Ấn giáo. Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo đã bị tiêu diệt đa phần trước khi Hồi giáo sang xâm chiếm.

  • Đặc biệt trong lịch sử Ấn Độ cho thấy, các vua Ấn giáo đã ra lệnh tiêu diệt Phật giáo lần lần qua các triều đại vua Ấn giáo.

3 – Thời kỳ Ấn Độ bị xâm chiếm của các nước phương tây:

Thời kỳ Ấn Độ bị các nước phương Tây xâm chiếm kéo dài từ thế kỷ XVI và kết thúc khi giành được độc lập vào năm 1947. Trong giai đoạn này, nhiều quốc gia châu Âu như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp và đặc biệt là Anh đã đua tranh biến Ấn Độ thành thuộc địa.

1. Quá trình xâm chiếm và tranh giành (Thế kỷ XVI - XIX)

Giai đoạn đầu (Thế kỷ XVI - XVII): Các nước phương Tây bắt đầu thâm nhập thông qua các hoạt động buôn bán và truyền giáo, thiết lập các thương điếm dọc bờ biển.

Sự trỗi dậy của Anh và Pháp (Thế kỷ XVII - XVIII): Hai cường quốc này cạnh tranh gay gắt để kiểm soát Ấn Độ. Đến giữa thế kỷ XVIII, Công ty Đông Ấn Anh dần thâu tóm quyền lực và thôn tính các vùng lãnh thổ.

Hoàn thành xâm lược (Giữa thế kỷ XIX): Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Anh đã hoàn tất việc xâm chiếm và đặt ách cai trị trên toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ.

2. Các hình thức cai trị của thực dân Anh

Sau khi dập tắt cuộc Khởi nghĩa Ấn Độ 1857 (còn gọi là Binh biến Sepoy), chính phủ Anh đã thay đổi phương thức quản lý:

Giải thể Công ty Đông Ấn: Quyền cai trị được chuyển trực tiếp cho Hoàng gia Anh, thiết lập chế độ British Raj.

Chính sách "Chia để trị": Lợi dụng sự khác biệt về tôn giáo (Hồi giáo và Ấn Độ giáo) và đẳng cấp để gây chia rẽ nội bộ.

Bóc lột kinh tế: Biến Ấn Độ thành nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa, dẫn đến sự suy thoái kinh tế và tình trạng bần cùng hóa dân cư.

3. Phong trào đấu tranh giành độc lập

Lãnh đạo: Đảng Quốc đại Ấn Độ, tiêu biểu là Mahatma Gandhi, đã khởi xướng các cuộc đấu tranh đòi độc lập bằng hình thức bất bạo động.

Kết quả: Năm 1947, thực dân Anh buộc phải trao trả độc lập. Tuy nhiên, tiểu lục địa bị chia cắt thành hai quốc gia tự trị là Ấn Độ và Pakistan.

III – THỜI ĐẠI PHỤC HƯNG:

 

Từ thế kỷ 19 năm 1858 – Thế kỷ 20 năm 1947, Ấn Độ là thuộc địa của Anh Quốc; Tổng cộng là 89 năm. Trong thời đại nầy, Phật giáo bắt đầu phục hồi trở lại dần dần.

 

1 – Ông Alexander Cunningham:

Anh quốc chiếm nước Ấn Độ làm thuộc địa vào thế kỷ 19 năm 1858. 3 năm sau, vào năm1861, Ông Alexander Cunningham sáng lập ban Khảo Sát Khảo Cổ của nước Ấn Độ – Archaeological Survey of India, viết tắt ASI, trụ sở tại 24 Tilak Marg, New Delhi, India, 110001. Ông cũng là giám đốc trực tiếp điều hành ban Khảo Sát Khảo Cổ nầy. Ban Khảo Sát khảo Cổ đã tìm lại các di tích lịch sử ở Ấn Độ. Nhờ vậy mà các di tích lịch sử của Đức Phật đều được khai quật. Ông có công rất lớn cho Phật giáo và các tín đồ Phật giáo cả thế giới. Ngày nay, người con Phật khắp nơi trên thế giới được viếng thăm di tích của Đức Phật là nhờ ông Alexander Cunningham. Chúng ta phải thành tâm niệm ân nhà khảo cổ học Alexander Cunningham.

 

+ Phần trích đoạn lịch sử bên dưới

 

BAN KHẢO SÁT KHẢO CỔ CỦA ẤN ĐỘ 

THE ARCHAEOLOGICAL SURVEY OF INDIA

The Archaeological Survey of India is an Indian government agency attached to the Ministry of Culture that is responsible for archaeological research and the conservation and preservation of cultural monuments in the country. It was founded in 1861 by Alexander Cunningham who also became its first Director-General.

Ban khảo sát khảo cổ của Ấn Độ là một ( Ấn Độ ) cơ quan chính phủ thuộc Bộ Văn hóa đó là chịu trách nhiệm về khảo cổ học nghiên cứu và bảo tồn và giữ gìn các di tích văn hóa trong cả nước. Nó được thành lập vào năm 1861 bởi Alexander Cunningham , người cũng trở thành Tổng giám đốc đầu tiên của nó. 

+ Lịch sử – History:

ASI was founded in 1861 by Alexander Cunningham who also became its first Director-General. The first systematic research into the subcontinent's history was conducted by the Asiatic Society, which was founded by the British Indologist William Jones on 15 January 1784. Based in Calcutta, the society promoted the study of ancient Sanskrit and Persian texts and published an annual journal titled Asiatic Researches. Notable among its early members was Charles Wilkins who published the first English translation of the Bhagavad Gita in 1785 with the patronage of the then Governor-General of Bengal, Warren Hastings. However, the most important of the society's achievements was the decipherment of the Brahmi script by James Prinsep in 1837. This successful decipherment inaugurated the study of Indian palaeography.

ASI được thành lập vào năm 1861 bởi Alexander Cunningham , người cũng trở thành Tổng giám đốc đầu tiên. Nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về lịch sử của tiểu lục địa được thực hiện bởi Hiệp hội Á châu , được thành lập bởi Nhà Ấn Độ học Anh William Jones vào ngày 15 tháng 1 năm 1784. Dựa trên Calcutta , xã hội đã thúc đẩy nghiên cứu các văn bản tiếng Phạn và tiếng Ba Tư cổ đại và xuất bản một tạp chí hàng năm có tiêu đề Nghiên cứu về Châu Á. Đáng chú ý trong số các thành viên ban đầu của nó là Charles Wilkins , người đã xuất bản bản dịch tiếng Anh đầu tiên của Bhagavad Gita vào năm 1785 với sự bảo trợ của sau đó Toàn quyền thành phố Bengal , Warren Hastings . Tuy nhiên, điều quan trọng nhất trong những thành tựu của xã hội là việc giải mã kịch bản Brahmi của James Prinsep vào năm 1837. Giải mã thành công này đã khánh thành nghiên cứu về thuật ngữ học Ấn Độ. 

+ Sự hình thành ASI - Formation of the ASI

Armed with the knowledge of Brahmi, Alexander Cunningham, a protégé of Prinsep, carried out a detailed survey of the Buddhist monuments which lasted for over half a century. Inspired by early amateur archaeologists like the Italian military officer, Jean-Baptiste Ventura, Cunningham excavated stupas along the width, the length and breadth of India. While Cunningham funded many of his early excavations himself, in the long run, he realised the need for a permanent body to oversee archaeological excavations and the conservation of Indian monuments and used his stature and influence in India to lobby for an archaeological survey. While his attempt in 1848 did not meet with success, the Archaeological Survey of India was eventually formed in 1861 by a statute passed into law by Lord Canning with Cunningham as the first Archaeological Surveyor. The survey was suspended briefly between 1865 and 1871 due to lack of funds but restored by Lord Lawrence the then Viceroy of India. In 1871, the Survey was revived as a separate department and Cunningham was appointed as its first Director-General.[2]

Được trang bị kiến ​​thức về Brahmi, Alexander Cunningham , một người được bảo hộ của Prinsep, đã thực hiện một cuộc khảo sát chi tiết về các di tích Phật giáo kéo dài hơn nửa thế kỷ. Lấy cảm hứng từ các nhà khảo cổ nghiệp dư đầu tiên như sĩ quan quân đội Ý, Jean-Baptiste Ventura , Cuckyham khai quật bảo tháp dọc theo chiều rộng, chiều dài và chiều rộng của Ấn Độ. Trong khi Cuckyham tự mình tài trợ cho nhiều cuộc khai quật đầu tiên của mình, về lâu dài, anh nhận ra sự cần thiết của một cơ quan thường trực để giám sát các cuộc khai quật khảo cổ và bảo tồn các di tích Ấn Độ và sử dụng tầm vóc và ảnh hưởng của anh ở Ấn Độ để vận động khảo sát khảo cổ. Trong khi nỗ lực của ông vào năm 1848 không đạt được thành công, Khảo sát Khảo cổ học Ấn Độ cuối cùng đã được hình thành vào năm 1861 bởi một đạo luật được Lord Canning đưa ra với tư cách là Nhà khảo sát khảo cổ đầu tiên. Cuộc khảo sát đã bị đình chỉ trong thời gian ngắn từ năm 1865 đến năm 1871 do thiếu kinh phí nhưng được phục hồi bởi Lord Lawrence the Viceroy của Ấn Độ. Năm 1871, Khảo sát được hồi sinh thành một bộ phận riêng biệt và Cickyham được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc đầu tiên. [2]

  • Quý vị có thể tham khảo thêm qua trang nhà bên dưới:

https://en.wikipedia.org/wiki/Archaeological_Survey_of_India

 

Tàn tích khai quật của các tu viện Nalanda.

Sau sự suy tàn của nó, Nalanda đã bị lãng quên phần lớn cho đến khi Francis Buchanan-Hamilton khảo sát địa điểm này vào năm 1811, 1818 sau khi người dân trong vùng lân cận thu hút sự chú ý của anh ta đến một khu di tích rộng lớn trong khu vực. Anh ta, tuy nhiên, không liên kết các ụ đất và mảnh vụn với Nalanda nổi tiếng. Liên kết đó được thành lập bởi Thiếu tá Markham Kittoe vào năm 1847. Alexander Cunningham và Khảo sát Khảo cổ học mới thành lập của Ấn Độ đã tiến hành một cuộc khảo sát chính thức vào năm 1861 Tiết1862. [2] Việc khai quật hệ thống các tàn tích của ASI không bắt đầu cho đến năm 1915 và kết thúc vào năm 1937. Vòng khai quật và phục hồi thứ hai diễn ra từ năm 1974 đến 1982. [1]

 

2 - ÔNG ANAGARIKA DHAMMA (1864 – 1833, 69 tuổi):

          Ông Anagarika Dharmapala sanh ngày 17 tháng 9 năm 1864 – ngày 29 tháng 04 năm 1933, hưởng thọ 69 tuổi, tại Colombo, Ceylon (nay là Sri Lanka), là một trong những tín đồ Phật giáo đáng tôn kính nhất trong thế kỷ 20. Với sự giúp đỡ của Henry Steel Olcott và Helena Petrovna Blavatsky , ông đã trở thành một nhà cải cách lớn và người phục hưng của Phật giáo Sri Lanka và là một nhân vật rất quan trọng trong truyền tải phương Tây. Ông đã phát biểu tại Quốc hội Tôn giáo Thế giới năm 1893. Sau khi, các di tích Phật giáo được khai quật, thì các tu sĩ Ấn giáo chiếm dụng và xây thêm các đền thờ Ấn giáo trong các Thánh tích. Do đó, Ông đã thưa kiện để dành lại cho Phật giáo. Ông đã thành lập Hội Maha Bodhi Society tại Ấn Độ vào ngày 31 tháng 05 năm 1891 để quản lý và khôi phục các đền thờ Phật giáo linh thiêng cho đến ngày nay như Tháp Bồ Đề Đạo Tràng - Bodhgaya, Tháp Chuyển Pháp Luân tại vườn Lộc Uyển - Sarnath, Tháp Trà Tỳ tại thành Câu Thi Na - Kushinagar.

Hội của Ông không những hoạt động tôn giáo, mà còn lo giáo dục, và từ thiện xã hội. Ông là người có công rất lớn đối với việc phục hưng Phật giáo Ấn Độ.

+ Phần trích đoạn trong trang nhà bên dưới:

 https://theosophy.wiki/en/Anagarika_Dharmapala

Vào ngày 31 tháng 5 năm 1891, Hội Budh-Gaya Mahabodhi được thành lập. Linh mục tối cao của Ceylon H. Sumangala là Chủ tịch, Đại tá Olcott là Giám đốc và Cố vấn trưởng, và Dharmapala là Tổng Bí thư. Hội mới đã thu hút sự đóng góp để duy trì một đội ngũ nhân viên tại địa điểm của Phật Gaya. Hội đã triệu tập một hội nghị Phật giáo quốc tế tại Phật Gaya vào tháng 10 năm 1891. Trụ sở chính được thành lập tại Calcutta (nay là Kolkata). Một tạp chí, The Maha Bodhi bắt đầu xuất bản vào năm 1892, với Dharmapala làm biên tập viên trong nhiều năm.

Khi ở lại Anh vào năm 1893, ông đã liên lạc với William Rhys Davids , người sáng lập Hội văn bản Pāli, để được tư vấn về ngôi đền. [24] Trong suốt một số năm, Hội Maha Bodhi đã thành công trong việc khôi phục các điện thờ Phật giáo cổ tại Bodh Gaya, Sarnath và Kushinara. Sự quyên góp đáng kể của nhà thông thái học Hawaii Mary E. Foster đã tạo điều kiện cho công việc này.

Hội có hiệu quả trong việc nâng cao ý thức của Phật tử về di sản của họ ở Ấn Độ và Tích Lan, và trong việc nâng cao kiến ​​thức về Phật giáo trong thế giới phương Tây. Trong những năm gắn bó với Hội, Dharmapala đã thành lập Trung tâm Upasana, thư viện, trường học, cao đẳng, trại trẻ mồ côi và bệnh viện ở Ấn Độ và Sri Lanka để phục vụ công chúng. Ông là một người ủng hộ mạnh mẽ độc lập cả ở Ấn Độ và Sri Lanka.

Các Hội Bodhi Maha của Ấn Độ tiếp tục tích cực trong Kolkata, và các tổ chức có liên quan đang ở Bangalore, Chennai, Colombo, và các nơi khác.

 

3 - Ông Ambekar (1891 – 1956, 64 tuổi)

Bhimrao Ramji Ambedkar sanh ngày 14 tháng 4 năm 1891 – mất ngày 6 tháng 12 năm 1956, hưởng thọ 64 tuổi, còn được gọi là Babasaheb Ambedkar, là một luật sư, nhà kinh tế, chính trị gia và nhà cải cách xã hội Ấn Độ, người đã truyền cảm hứng cho phong trào Phật giáo Dalit và vận động chống lại sự phân biệt đối xử xã hội đối với những người bất khả xâm phạm ( Dalits ). Ông là Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Tư pháp đầu tiên của Ấn Độ và là kiến ​​trúc sư trưởng của Hiến pháp Ấn Độ .

 

Ambedkar là một sinh viên sung mãn, lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại cả Đại học Columbia và Trường Kinh tế Luân Đôn , và nổi tiếng là một học giả cho nghiên cứu về luật, kinh tế và khoa học chính trị. [15] Trong sự nghiệp ban đầu của mình, ông là một nhà kinh tế, giáo sư và luật sư. Cuộc sống sau này của ông được đánh dấu bằng các hoạt động chính trị của ông; ông tham gia vào chiến dịch và đàm phán đòi độc lập của Ấn Độ, xuất bản các tạp chí, ủng hộ các quyền chính trị và tự do xã hội cho Dalits, và đóng góp đáng kể vào việc thành lập nhà nước Ấn Độ. Năm 1956, ông chuyển đổi sang Phật giáo , khởi xướng chuyển đổi hàng loạt Dalits. 

Qua lịch sử, chúng ta thấy Ông là người đóng góp lập hiến pháp cho nước Ấn Độ khi mới độc lập vào năm 1947. Đặc biệt, vào ngày 14 tháng 10 năm 1956, Ông đã trở thành Phật tử và Ông đã hướng dẫn 500.000, người quy y Tam Bảo tại thành phố Nagpur, tiểu bang Maharashtra. Sau 2 tháng, Ông qua đời vào ngày 06 tháng 12 năm 1956. Giờ, các Phật tử ở Ấn Độ đều thờ Ông như là người khai sơn Phật giáo thứ hai. Vậy, Ông là người có công rất lớn trong việc hoằng pháp và quy y Tam Bảo cho tín đồ Phật tử. Đây là sự đóng góp rất lớn cho sự phục hưng Phật giáo Ấn Độ.

Description: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fc/Dr._Ambedkar_delivering_speech_during_conversion.jpg/220px-Dr._Ambedkar_delivering_speech_during_conversion.jpgDescription: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/38/Deekshabhoomi_-_panoramio.jpg/200px-Deekshabhoomi_-_panoramio.jpg

Ambedkar phát biểu trong quá trình chuyển đổi hàng loạt

+ Trích đoạn trang nhà bên dưới. Quý vị muốn biết thêm chi tiết, thì bấm vào trang nhà.

https://en.wikipedia.org/wiki/B._R._Ambedkar

Bài chi tiết: Phật giáo Dalit

 

Ambedkar đã cân nhắc việc chuyển đổi sang đạo Sikh , điều này khuyến khích sự phản đối áp bức và vì thế đã lôi cuốn các nhà lãnh đạo của các diễn viên theo lịch trình. Nhưng sau cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Sikh, ông kết luận rằng ông có thể có được vị thế Sikh "hạng hai". [100]

Thay vào đó, khoảng năm 1950, ông bắt đầu dành sự chú ý của mình cho Phật giáo và đến Ceylon (nay là Sri Lanka) để tham dự một cuộc họp của Hiệp hội Phật tử Thế giới . [101] Trong khi cống hiến một vihara Phật giáo mới gần Pune , Ambedkar tuyên bố ông đang viết một cuốn sách về Phật giáo, và khi nó được hoàn thành, ông sẽ chính thức chuyển đổi sang Phật giáo. [102] Ông hai lần viếng thăm Miến Điện vào năm 1954; lần thứ hai tham dự hội nghị thứ ba của Hiệp hội Phật tử Thế giới ở Rangoon . [103] Năm 1955, ông thành lập Bharatiya Bauddha Mahasabha, hay Hội Phật giáo Ấn Độ. [104] Ông đã hoàn thành công việc cuối cùng của mình,Đức Phật và Giáo pháp của Ngài , vào năm 1956 đã được xuất bản sau đó. [104]

Sau cuộc gặp với nhà sư Phật giáo Sri Lanka, ông Hammalawa Saddhatissa , [105] Ambedkar đã tổ chức một buổi lễ công khai chính thức cho mình và những người ủng hộ ông ở Nagpur vào ngày 14 tháng 10 năm 1956. Chấp nhận ba người tị nạn và năm giới từ một nhà sư theo cách truyền thống, Ambedkar hoàn thành chuyển đổi của riêng mình, cùng với vợ. Sau đó, anh ta đã tiến hành chuyển đổi khoảng 500.000 người ủng hộ anh ta đang tập trung xung quanh anh ta. [102] [106] Ngài quy định 22 Nguyện cho những người cải đạo này, sau Tam Bảo và Năm Giới. Sau đó, ông đi du lịch đến Kathmandu, Nepal tham dự Hội nghị Phật giáo Thế giới lần thứ tư. [103] Công trình của ông về Đức Phật hay Karl Marx và "Cách mạng và phản cách mạng ở Ấn Độ cổ đại" vẫn chưa hoàn thành.

4 - Ông Goenka (1924 – 2013, hưởng thọ 89 tuổi)

+ Phần giới thiệu:

          Ông Goenka sanh ra tại Mandalay, là cố đô nước Miến Điện – Myanmar, vào ngày 29 tháng 01 năm 1924 và qua đời vào ngày 29 tháng 09 năm 2013, hưởng thọ 89 tuổi tại Mumbai, tiểu bang Maharashtra, là cố đô của nước Ấn Độ – India bây giờ. Ông xuất thân từ gia đình người Ấn Độ, theo đạo Ấn giáo. Ông được sinh ra và lớn lên ở nước Miến Điện. Ông có duyên học thiền Tứ Niệm Xứ – Vipassana qua thiền Sư U Ba Khin 14 năm. Năm 1969, Ông trở về Ấn Độ dạy thiền. Ông đã mở khoảng 202 trung tâm thiền khắp nước Ấn độ và Ông đã hoằng pháp ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu và Trung Đông .v.v. Mặc dù, Ông đã qua đời, nhưng các trung tâm thiền của Ông vẫn sinh hoạt bình thường. Qua sự hoằng pháp của Ông, chúng ta nhận thấy Ông có công rất lớn trong việc hoằng pháp phục hưng Phật giáo Ấn Độ trong thế kỷ 20 và 21. Bốn vị Phật tử tại gia nầy có công rất lớn thời kỳ phục hưng Phật giáo Ấn Độ.

https://www.globalpagoda.org/sites/default/files/imagecache/original/Y2012-22-PT06.gif

          Sau đây mời quý vị đọc phần trích đoạn và tham khảo qua trang nhà bên dưới:

https://en.wikipedia.org/wiki/S._N._Goenka

Satya Narayan Goenka ( Miến Điện : ဂို အင် ကာ; 29 Tháng 1 1924 - 29 Tháng Chín năm 2013), thường được gọi là SN Goenka , là một giáo viên Miến Điện biên giới Ấn- vipassana thiền . Sinh ra ở Miến Điện trong một gia đình kinh doanh Ấn Độ, ông chuyển đến Ấn Độ vào năm 1969 và bắt đầu dạy thiền. Giáo lý của ông nhấn mạnh rằng con đường giải thoát của Đức Phật là phi giáo phái, phổ quát và có tính khoa học. Ông trở thành một giáo viên có ảnh hưởng và đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập các trung tâm thiền Vipassana phi thương mại trên toàn cầu. Ông được trao giải Padma Bhushan bởi Chính phủ Ấn Độ vào năm 2012, một giải thưởng được trao cho dịch vụ xuất sắc có thứ tự cao.

Sinh ngày 29 tháng 1 năm 1924 tại Miến Điện (nay là Myanmar) với cha mẹ là người Ấn Độ thuộc dân tộc Marwari , Goenka lớn lên trong một gia đình sanatani theo đạo Hindu bảo thủ . [1] Ông là một doanh nhân thành đạt, khi vào năm 1955, ông bắt đầu trải qua chứng đau nửa đầu nghiêm trọng, suy nhược . [2] [3] Không thể tìm thấy cứu trợ y tế, và theo gợi ý của một người bạn, anh đã gặp giáo viên Vipassana Sayagyi U Ba Khin . Mặc dù ban đầu miễn cưỡng, Ba Khin đã đưa anh vào làm học sinh. [4] [5] [6] Goenka sau đó được đào tạo dưới anh trong 14 năm. [4] [7]

Năm 1969, Goenka được Sayagyi U Ba Khin ủy quyền giảng dạy , người qua đời năm 1971. Ông rời bỏ công việc kinh doanh của mình và chuyển đến Ấn Độ, nơi ông bắt đầu trung tâm thiền Vipassana đầu tiên tại Kusum Nagar ở Hyderabad. Bảy năm sau, năm 1976, ông mở trung tâm thiền đầu tiên của mình, Dhamma Giri, ở Igatpuri gần Nashik , Maharashtra . Ông tự dạy thiền cho đến năm 1982, và sau đó bắt đầu đào tạo trợ lý giáo viên. Ông thành lập Viện nghiên cứu Vipassana tại Dhamma Giri năm 1985. [4] [7]

Ngay từ đầu, ông đã dạy các khóa thiền thiền chuyên sâu kéo dài 10 ngày và đến năm 1988 đã dạy cho nhiều người, trong đó có vài nghìn người phương Tây. [số 8]

Ngày nay, các khóa học Vipassana, theo truyền thống của Sayagyi U Ba Khin, được tổ chức tại 341 địa điểm ở 94 quốc gia, trong đó có khoảng 202 trung tâm thiền Vipassana vĩnh viễn. [9] Có những trung tâm như vậy ở Argentina, Úc, Áo, Bỉ, Brazil, Campuchia, Canada, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hồng Kông, Indonesia, Iran, Israel, Ý, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, New Zealand, Philippines, Ba Lan, Nga, Nam Phi, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Sri Lanka, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đài Loan, Thái Lan, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và 78 trung tâm ở Ấn Độ. [4] [7] [10]

Vào năm 2000, Goenka đã đặt nền móng của chùa Vipassana toàn cầu cao 325 ft , gần bãi biển Gorai , ở Mumbai, khai trương năm 2009, và có xá lợi của Đức Phật và một thiền đường. [4] Nó được xây dựng như một sự tôn vinh dành cho giáo viên của mình, người đã muốn trả lại khoản nợ cho Ấn Độ, vùng đất xuất xứ của Vipassana. Tuy nhiên, không giống như người được bảo hộ của mình, U Ba Khin không thể có được hộ chiếu, và do đó đã không thể đích thân đi du lịch đến Ấn Độ. [1]

Trung tâm thiền Vipassana nổi tiếng ở Mumbai là Chùa Global Vipassana (Global Vipassana Pagoda) và Trung tâm Thiền Vipassana Dhamma Pattana (Dhamma Pattana Vipassana Centre), nằm liền kề nhau tại khu vực Gorai. 

  • Chùa Global Vipassana: Đây là một công trình kiến trúc vĩ đại được xây dựng để bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và giáo pháp của Ngài. Ngôi chùa này nổi tiếng với mái vòm đá lớn nhất thế giới không có cột chống đỡ, có sức chứa khoảng 8.000 thiền sinh cùng một lúc. Bên trong mái vòm trung tâm có chứa xá lợi đích thực của Đức Phật.

  • Trung tâm Dhamma Pattana: Nằm trong cùng khuôn viên, trung tâm này tổ chức các khóa thiền Vipassana 10 ngày cho mọi đối tượng, bao gồm cả các khóa học đặc biệt cho các giám đốc điều hành và quan chức chính phủ. 

 

https://globalpagoda.org/sites/default/files/imagecache/original/inaug-1_1.jpg

Bạn có thể tìm thấy rất nhiều hình ảnh về các trung tâm này bằng cách thực hiện các tìm kiếm sau trên Google Hình ảnh hoặc các trang web chuyên về hình ảnh:

  • "Global Vipassana Pagoda images" (Hình ảnh Chùa Global Vipassana)

  • "Dhamma Pattana Vipassana Centre photos" (Ảnh Trung tâm Dhamma Pattana Vipassana)

  • "Inside Global Vipassana Pagoda dome" (Bên trong mái vòm Chùa Global Vipassana)

Các trang web chính thức của trung tâm cũng có thư viện ảnh:

  • https://globalpagoda.org/gallery

  • 5.0/5 - (1 bình chọn)

    Hãy chia sẻ nội dung này để mang giáo pháp đức phật đến với mọi người.

    Nội Dung Mới

    • 3 thời kỳ lịch sử Phật giáo Ấn Độ
    • Kinh địa tạng và ẩn dụ
    • Tổng quan và pháp hành kinh Hoa Nghiêm
    • Kinh Dược Sư: tổng quan và giải thích ẩn dụ
    • Giải thích ẩn dụ về kinh Bahiya
    • Tu tập pháp hành các tông phái Phật giáo qua lăng kính khoa học
    • Nghiên cứu khoa học về thiền hơi thở
    • Thiền tông nhìn qua lăng kính khoa học
    • Làn sóng thiền định từ cơ chế đến hồi đáp sinh học trị liệu
    • Thiền quán ánh sáng trong kinh điển và tông phái Phật giáo
    • Phân tích về hệ thống Duy Thức
    • Nguồn gốc hình thành tư tưởng
    • Giải thích ẩn dụ kinh Bộc Lưu
    • Duyên khởi
    • Bộ phân tích
    • Tư tưởng Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ
    • Kỹ thuật đạt được trạng thái thư giãn toàn thân tâm

    Nội Dung Hay

    • 3 thời kỳ lịch sử Phật giáo Ấn Độ
    • Kinh địa tạng và ẩn dụ
    • Tổng quan và pháp hành kinh Hoa Nghiêm
    • Kinh Dược Sư: tổng quan và giải thích ẩn dụ
    • Giải thích ẩn dụ về kinh Bahiya
    • Tu tập pháp hành các tông phái Phật giáo qua lăng kính khoa học
    • Nghiên cứu khoa học về thiền hơi thở
    • Thiền tông nhìn qua lăng kính khoa học
    • Làn sóng thiền định từ cơ chế đến hồi đáp sinh học trị liệu
    • Thiền quán ánh sáng trong kinh điển và tông phái Phật giáo
    • Phân tích về hệ thống Duy Thức
    • Nguồn gốc hình thành tư tưởng
    • Giải thích ẩn dụ kinh Bộc Lưu
    • Duyên khởi
    • Bộ phân tích
    • Tư tưởng Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ
    • Kỹ thuật đạt được trạng thái thư giãn toàn thân tâm

    Chuyên Mục

    • TRANG CHỦ
    • GIỚI THIỆU
    • Giới Thiệu Tổng Quan
    • Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ
    • PHÁP HÀNH & KINH GIẢI
    • Giải thích Kinh Ẩn Dụ
    • Pháp hành các tông phái Phật giáo
    • THIỀN & KHOA HỌC
    • Nghiên cứu khoa học về thiền hơi thở
    • Thiền tông nhìn qua lăng kính khoa học
    • Khoa học về pháp tu Tịnh độ
    • SÁCH & LUẬN
    • Sách về Thiền Phật giáo
    • Phân tích về luận Phật giáo

    © 2025 Website Phật Giáo & Khoa Học. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 🙏. Kính chúc quý vị thân tâm thường an lạc